Skip to content

Các loại hoành phi đại tự: Cách nhận biết, phân loại và ý nghĩa trong di tích

Hoành phi đại tự là một yếu tố quen thuộc trong các đình, chùa, đền miếu ở Việt Nam. Không chỉ mang tính trang trí, hoành phi còn chứa đựng nhiều thông tin quan trọng về lịch sử, văn hóa và tư tưởng. Để hiểu rõ hơn, cần phân biệt các loại hoành phi dựa trên số lượng chữ, nội dung và cách sử dụng trong từng không gian thờ tự.

Hoành phi đại tự là gì?

Hoành phi là những tấm bảng gỗ treo ngang, trên đó viết chữ lớn, thường được sơn đỏ và thếp vàng. Nội dung của hoành phi thường rất ngắn gọn nhưng hàm súc, đóng vai trò như một tiêu đề thể hiện tinh thần chung của không gian thờ. Trong nhiều di tích, hoành phi được sắp xếp theo nguyên tắc cân đối. Ví dụ, trong một ngôi chùa, có thể thấy các tấm hoành phi mang ý nghĩa ca ngợi sự linh thiêng, công đức hoặc trí tuệ, được bố trí hài hòa từ ngoài cổng vào đến chính điện.

Phân loại hoành phi theo số lượng chữ

Do số lượng các hoành phi ở các di tích có quá nhiều và đa dạng về mặt ngôn ngữ và chủ đề, nên việc phân loại hoành phi theo chủ đề nội dung là việc không dễ dàng gì. Do vậy, chúng tôi (ở mức độ nào đó) sẽ giới thiệu các tấm hoành phi chủ yếu từ góc độ ngôn ngữ và phân loại chúng theo số lượng các chữ có trong đó. Cũng không ít đại tự (ở dạng viết trực tiếp lên tường) chỉ có một chữ (như ở chùa có chữ Phúc, Lộc, ở chùa hay có chữ Tâm, chữ Vạn). Loại này không có cấu trúc ngữ pháp phức tạp, ý nghĩa chủ yếu nằm ở biểu tượng và cách hiểu truyền thống.

Xuất phát từ số lượng chữ có trong 1 tấm hoành phi, chúng tôi tạm phân loại ra các loại hoành phi sau: 

  • Hoành phi hai chữ
  • Hoành phi ba chữ
  • Hoành phi bốn chữ
Mẫu hoàng phi đại tự 4 chữ do Đồ Thờ Thông Hồng sản xuất
Mẫu hoàng phi đại tự 4 chữ do Đồ Thờ Thông Hồng sản xuất

Hoành phi đại tự hai chữ

Hoành phi hai chữ phổ biến và bắt đầu có cấu trúc rõ ràng hơn. Có thể chia thành ba dạng chính:

  • Dạng mô tả (định tính): như “trăng sáng”, “gió mát”, “cửa thiền”, “biển khổ”…
  • Dạng song hành (đẳng lập): như “thông minh”, “chính trực”, “phúc đức”
  • Dạng bổ nghĩa (đồng bổ): như “tăng phúc”, “sánh trời”, “ngang trời”

So với các loại dài hơn, hoành phi hai chữ dễ hiểu nhưng vẫn mang tính khái quát cao.

Hoành phi đại tự ba chữ 

Hoành phi đại tự 3 chữ được lắp đặt tại tư gia
Hoành phi đại tự 3 chữ được lắp đặt tại tư gia

Đây là nhóm phổ biến nhất và có giá trị biểu đạt sâu sắc. Nội dung thường là những cụm từ hoàn chỉnh, có thể trích từ kinh điển hoặc văn học cổ.

Ví dụ:

  • Vô lượng quang- Vẻ sáng của Phật thật là vô cùng, không thể lường hết, không thể đo hết được.
  • Cao đường long – Cha mẹ còn khỏe, (mong cho) cha mẹ khỏe mãi…
  • Độc thư hảo- Đọc sách là tốt

Hoành phi đại tự bốn chữ

Hoành phi-đại tự bốn chữ thường hai gặp nhất. Cấu trúc ngôn ngữ của hoành phi bốn chữ về nguyên tắc cũng như cấu trúc ngôn ngữ của hoành phi 2 hay 3 chữ. Song do dài hơn, do đó các kết cấu có tổ chức rõ hơn, đầy đủ hơn. 

Ví dụ:

  • Phong vân trường hộ - Gió mây mãi mãi bảo hộ cho đất nước, thần dân.
  • Tứ đại đồng đường – Bốn đời cùng nhà. Nhà có 4 thế hệ - cụ - ông bà – bố mẹ - con cái cùng sống, ý chỉ nhà hành phúc, các bậc già cả đưởng hưởng chữ thọ, các bậc con cái cũng nhờ vào phúc ấm của tổ tiên mà có được.

Vai trò và ý nghĩa của hoành phi

Các tấm hoành phi là những lời giới thiệu ngắn gọn nhất về di tích, về hành trạng, về công đức của nhân vật được thờ (các anh hùng dân tộc, các bậc thánh, các bậc thành hoàng...),về giáo lý tôn giáo... Chúng gợi nên uy lực của thần thánh, khuyên con người hướng thiện, răn trừng điều ác... Vào các đền thờ, chúng ta hay thấy các bức đại tự như Chính khí, Sinh đẳng thần... để thấy uy lực của các thần vốn là những người khi sống đã từng giúp nước, khi tạ thế rồi lại làm thần hộ quốc kỳ dân... Khi bước vào tòa Đại bái ở Văn Miếu chúng ta thấy một loạt hoành phi ca ngợi Khổng Tử (vì Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử như Đế chế (Vạn thế sư biểu - bậc sư biểu của muôn đời). Bước vào các chùa thờ Phật ta thấy các tấm hoành phi chủ yếu thiên về giới thiệu các thuật ngữ của nhà Phật như: A di đà Phật; hay các thuật ngữ cao siêu hơn của nhà Phật... Nói như thế không có nghĩa là ở đây không có những tấm hoành phi ghi về phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp xung quanh cảnh chùa hay bản thân công chùa như “Thanh phong”, “Thủy ba”... Vào các quần đạo hay nơi thờ mẫu, chúng ta lại gặp những hoành phi ca ngợi về thần tiên, ca ngợi phép màu nhiệm, thần thông quảng đại... Ở các đền thờ Mẫu và rất nhiều nơi có lối thờ tiên Phật hậu Mẫu, chúng ta hay thấy những câu ca ngợi cảnh tiên ở. Các tín ngưỡng dân gian bản địa được kết hợp trong các đình, chùa thờ Phật, miếu, cung như bản thân việc thờ Thành hoàng... đều nhằm một mục đích mong muốn cho “quốc thái dân an”, cuộc sống hòa bình, do vậy, chúng ta cũng thường thấy các tấm hoành phi với ý nghĩa này ở các di tích. 

Cách hiểu đúng ý nghĩa hoành phi

Để hiểu đúng một tấm hoành phi, không thể chỉ nhìn vào mặt chữ mà cần đặt nó trong bối cảnh cụ thể:

  • Không gian thờ tự
  • Đối tượng được thờ
  • Nguồn gốc câu chữ (từ kinh sách hay văn học cổ)

Ví dụ, hoành phi vốn là những đề từ, trích lục từ sách vở cổ, do đó, ý nghĩa của chúng rất sâu sắc. Chúng ta chỉ có thể hiểu được chúng trên cơ sở hiểu được đối tượng thờ, hiểu quang cảnh nơi đặt và cần hiểu những chữ ấy được trích từ đâu, từ sách vở nào... Nếu như các nơi thờ có liên quan đến các anh hùng dân tộc thì chủ đề của các hoành phi thường ca ngợi công nghiệp lớn lao của họ. Chẳng hạn đền thờ Trần Hưng Đạo (ở Hà Nội) có tấm hoành phi lấy từ bài thơ của Phạm Ngũ Lão - một tướng xuất sắc của Trần Hưng Đạo. Nếu là Văn Miếu, Văn chỉ, Văn từ thì ngôn từ các hoành phi chủ yếu sẽ thuộc vào phạm trù ngôn ngữ của các kinh điển Nho Giáo. 

Hoành phi đại tự là một dạng văn bản đặc biệt, ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Việc phân loại hoành phi theo số lượng chữ và nội dung giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của chúng trong di tích. Từ những tấm hoành phi đơn giản một chữ đến những cụm từ mang tính triết lý sâu sắc, tất cả đều góp phần tạo nên bản sắc văn hóa truyền thống. 

5/5 (1 bầu chọn)